KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ

[ad_1]

 

        Hệ thống giao tiếp trong một tổ chức giống như hệ thống mạch máu của cơ thể con người. Không có hệ thống này thì tổ chức không thể vận động và tồn tại được. Ở phạm vi xã hội, giao tiếp là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nhân cách của con người.

Description: Kết quả hình ảnh cho Giao tiếp ngôn  ngữ trong quản lý

  1. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP TRONG QUẢN LÝ

A.V. Xukhômlinxki đã viết: “Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu vĩ đại nhất trong các nhu cầu của con người, không được đặt nó ngang hàng với các loại nhu cầu khác”. Giao tiếp trong quản lý đóng vai trò của cơ quan tuần hoàn máu trong cơ thể – chuyển tải thông tin đến các thành viên và giữa các thành viên với nhau, đưa các thông tin từ các thành viên đến người lãnh đạo.

 Giao tiếp trong quản lý là quá trình trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tri giác và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và các đối tượng liên quan khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của tổ chức.

2. VAI TRÒ CỦA GIAO TIẾP TRONG TỔ CHỨC

2.1.Vai trò của giao tiếp nói chung

Giao tiếp có vai trò  trong việc truyền tải thông tin.Giao tiếp có vai trò trong điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân. Qua giao tiếp, con người hình thành nên những mối quan hệ xã hội. Xã hội càng phát triển thì giao tiếp càng phong phú, phương tiện giao tiếp càng phức tạp và giao tiếp qua các phương tiện giao tiếp càng phát triển.

2.2.Vai trò của giao tiếp đối với các tổ chức công

Trong các tổ chức nói chung giao tiếp có 5 chức năng căn bản:

– Định hướng các hoạt động của tổ chức: Giao tiếp chia sẻ và truyền đạt cái đích mà các tổ chức cần đạt đến cũng như cách thức để đạt được điều đó. Điều này tránh dẫn tới nhiều nguy hại đối với tổ chức, trong đó có cả việc chia rẽ, bất đồng và tan rã tổ chức.

– Hợp nhất các cá nhân, đơn vị và các nguồn lực: Mỗi tổ chức là một tập hợp gồm nhiều kiểu khí chất, quan điểm, nhận thức và kỳ vọng khác nhau. Giao tiếp là cơ sở, là chất keo dính lôi cuốn những người, có điểm chung căn bản lại với nhau để hình thành tổ chức. Đối với cán bộ, nhân viên, giao tiếp giúp họ nắm bắt thông tin, nhiệm vụ và tương tác với đồng nghiệp.

– Duy trì các giá trị và truyền thống của tổ chức: Mỗi tổ chức đều có một số hoặc một hệ thống các giá trị mà nó duy trì và muốn khuếch trương. Giao tiếp là cách tốt nhất giúp định hình và duy trì các giá trị của tổ chức.

– Khuyến khích, động viên các cá nhân, đơn vị trong tổ chức: Giao tiếp trong tổ chức còn bao hàm cả khía cạnh mang tính nhân bản là khuyến khích, động viên các cá nhân, đơn vị trong tổ chức (giao ước, phát động thi đua…).

 – Tạo môi trường cho các ý tưởng mới, sáng kiến mới: Giao tiếp tạo môi trường trong đó các ý tưởng mới, sáng kiến mới được hình thành, chia sẻ, thách thức và trải nghiệm. Thông qua các buổi trao đổi, thảo luận, hội nghị, hội thảo khoa học, các ý tưởng mới, sáng kiến mới được hình thành và phát triển.

 

3. CÁC HÌNH THỨC GIAO TIẾP TRONG QUẢN LÝ

3.1.Căn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp của quá trình giao tiếp trong quản lý

– Giao tiếp quản lý trực tiếp: là sự tiếp xúc  trao đổi giữa người quản lý và người bị quản lý, có 2 hình thức  đàm thoại: Đối thoại thể hiện qua hình thức thảo luận. Tranh luận, bàn luận; Độc thoại là loại giao tiếp trong đó chỉ có người quản lý truyền đạt mà không có sự đáp lại của các đối tượng giao tiếp.

Giao tiếp quản lý gián tiếp: là giao tiếp giữa người quản lý và người dưới quyền thực hiện thông qua điện thoại, mạng xã hội, hội họp truyền hình trực tuyến.

3.2. Căn cứ vào mục đích giao tiếp

3.2.1. Giao tiếp quản lý chính thức: Giao tiếp chính thức  trong quản lý nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể như: các cuộc họp giao ban định kỳ, họp về hợp tác và phát triển của tổ chức…

3.2.2. Giao tiếp quản lý chính thức:

Giao tiếp quản lý chính thức là giao tiếp giữa nhà quản lý với các đối tượng khác  nhau không có sự quy định về nghi lễ. Mục đích giao tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu, chia sẻ, giãi bày… nên bầu không khí giao tiếp thân mật và có sự hiểu biết lẫn nhau.

3.3. Dựa vào đặc điểm thông điệp

Giao tiếp ngôn  ngữ trong quản lý

Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp tổng hợp và chủ yếu. Khi một người giao tiếp với người khác, thì người này và người kia đều phải sử dụng ngôn ngữ (nói ra thành lời hoặc viết ra thành chữ) để truyền đạt, trao đổi ý kiến, tư tưởng, tình cảm cho nhau. Có vốn ngôn ngữ phong phú thì rất thuận lợi trong giao tiếp. Trong giao tiếp có khi vì một lý do nào đó, thậm chí vì một thói quen, con người không nói đúng sự thật: anh ta nghĩ, cảm xúc, có ý định như thế này nhưng lại nói và viết khác đi, cường điệu lên, giảm nhẹ đi, thậm chí nói ngược lại hoàn toàn… nghĩa là anh ta đã nói dối. Lúc này ngôn ngữ không chỉ là phương tiện và phương pháp để thông tin, diễn đạt, biểu lộ trung thực, thẳng thắn những điều con người hiểu biết, suy nghĩ và cảm xúc, mà còn là phương tiện và phương pháp để con người che giấu, xuyên tạc sự thật, đánh lạc hướng giao tiếp.

Trong giao tiếp, ngôn ngữ thể hiện không chỉ ý nghĩ và tình cảm của con người mà còn biểu hiện trình độ học vấn, trình độ văn hoá và nhân cách của con người.

Giao tiếp phi ngôn  ngữ trong quản lý

Giao tiếp phi ngôn  ngũ trong quản lý có hai chức năng cơ bản, đó là chức năng biểu hiện trạng thái cảm xúc nhất thời và chức năng hiểu biết các đặc trưng cá nhân. Các chức năng của giao tiếp phi ngôn ngữ đều được biểu hiện ở người quản lý và đối tượng quản lý.

Hành vi phi ngôn ngữ, hay còn được biết đến với tên gọi ngôn ngữ cử chỉ (Body Language) là phương pháp đơn giản giúp mọi người dễ dàng kết nối với nhau. Cho dù bạn đang ở vị trí quản lý hay nhân viên thì việc sử dụng ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp cũng là điều không thể thiếu.

Description: Ngôn ngữ cơ thể


[ad_2]
Source link

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *